So sánh hai ngôn ngữ: so được cái gì và không so được cái gì
So sánh ngôn ngữ là hoạt động hữu ích nếu biết so cái gì. Bốn mặt so sánh được, ba câu hỏi không có ý nghĩa và cách dùng so sánh cho việc học.
Một tài khoản dùng chung cho cả mười. Chuỗi ngày và dặm cộng dồn.
So sánh ngôn ngữ là hoạt động hữu ích nếu biết so cái gì. Bốn mặt so sánh được, ba câu hỏi không có ý nghĩa và cách dùng so sánh cho việc học.
Ngoài phân loại theo quan hệ họ hàng còn có phân loại theo cấu trúc. Ba tiêu chí loại hình, khác biệt với họ ngôn ngữ và ý nghĩa với người học.
Có những đặc điểm xuất hiện ở mọi ngôn ngữ và có những đặc điểm chỉ ở một số. Bốn điểm chung, bốn điểm khác biệt và ý nghĩa với người học.
So sánh với tiếng Việt giúp nhiều ở giai đoạn đầu nhưng cản trở ở giai đoạn sau. Ba cách dùng hiệu quả, ba cách gây hại và thời điểm nên chuyển.
Ngôn ngữ do con người thiết kế ra có nhiều loại phục vụ mục đích khác nhau. Ba loại chính, điểm chung và khác biệt so với ngôn ngữ phát triển tự nhiên.
Ý tưởng về một ngôn ngữ chung dễ học cho mọi người đã có từ lâu. Ba nguyên tắc thiết kế thường thấy, những gì đạt được và những giới hạn thực tế.
Một số ngôn ngữ được tạo cho sách và phim đã có cộng đồng học thật. Ba mức độ hoàn chỉnh, lý do người ta học và điều thú vị về mặt ngôn ngữ học.
Câu hỏi hợp lý với một hoạt động không có lợi ích thực dụng rõ ràng. Ba lợi ích được nêu ra, ba trường hợp nên cân nhắc và điều nên trung thực với bản thân.
Độ khó của một ngôn ngữ phụ thuộc vào tiếng mẹ đẻ của người học. Bốn yếu tố quyết định, vì sao các danh sách chung ít dùng được và cách tự đánh giá.
Người Việt có những lợi thế riêng mà các danh sách chung không tính tới. Bốn yếu tố tạo lợi thế, mức độ của từng yếu tố và cách nhận ra chúng khi chọn.
Nhiều ngôn ngữ dễ ở giai đoạn đầu lại khó ở giai đoạn sau và ngược lại. Ba kiểu đường cong, vì sao điều này gây hiểu nhầm và cách chuẩn bị.
Chọn theo độ khó nghe hợp lý nhưng có vài mặt trái. Ba trường hợp nên chọn theo độ khó, ba trường hợp không nên và yếu tố quan trọng hơn cả độ khó.